Bổ Trung Ích Khí Thang - Điều trị bệnh trĩ từ căn nguyên Tỳ hư
Trong điều trị bệnh trĩ bằng y học cổ truyền, không phải trường hợp nào cũng thuộc thể thấp nhiệt hay huyết ứ. Trên lâm sàng, có một thể bệnh rất thường gặp nhưng lại dễ bị bỏ qua, đó là trĩ do tỳ hư, trung khí hạ hãm. Đối với thể bệnh này, chỉ chú trọng cầm máu hay làm se búi trĩ thường không mang lại hiệu quả lâu dài, bởi căn nguyên của bệnh nằm ở sự suy yếu của trung khí.
Nhắc đến điều trị trung khí hạ hãm, không thể không nói đến Bổ Trung Ích Khí Thang. Đây là danh phương do Lý Đông Viên, một trong Tứ đại danh y thời Kim - Nguyên và là người sáng lập học thuyết Tỳ vị, sáng chế. Với công năng bổ trung ích khí, thăng dương cử hãm, bài thuốc được xem là phương kinh điển trong điều trị các bệnh lý do tỳ khí hư gây sa hãm, trong đó có bệnh trĩ.
Tỳ khí hư - căn nguyên của nhiều trường hợp bệnh trĩ
Theo học thuyết Tỳ vị, tỳ là gốc của hậu thiên, là nguồn sinh hóa khí huyết. Khi tỳ khí sung mãn, cơ thể có đủ khí để vận hóa thủy cốc, nuôi dưỡng tạng phủ, đồng thời thực hiện chức năng cố nhiếp, giữ cho khí huyết, tân dịch và các tạng phủ ổn định ở vị trí sinh lý bình thường.
Khi tỳ khí hư suy, chức năng cố nhiếp giảm sút rõ rệt. Khí không còn đủ sức nâng đỡ các tổ chức và mạch lạc, khiến những cấu trúc vốn được giữ vững bắt đầu sa xuống. Đây chính là cơ chế hình thành của nhiều bệnh lý như sa trực tràng, sa tử cung, sa dạ dày và đặc biệt là sa búi trĩ.
Người bệnh thường có các biểu hiện điển hình của tỳ khí hư như ăn kém, đại tiện lỏng, người mệt mỏi, ít nói, hơi thở ngắn, tay chân rã rời, sắc mặt vàng nhợt hoặc trắng nhợt. Khi trung khí tiếp tục suy giảm, sau mỗi lần đại tiện hoặc khi rặn nhiều, búi trĩ dễ sa ra ngoài và khó tự co lên.
Chính vì vậy, trong những trường hợp này, điều trị chỉ tập trung vào búi trĩ mà không phục hồi trung khí thì hiệu quả thường không bền vững.
Khí không chỉ nâng đỡ tạng phủ
Lý Đông Viên là người đầu tiên hệ thống hóa học thuyết tỳ hư khí hãm và vận dụng phép thăng dương cử hãm trong điều trị.
Theo ông, trong năm chức năng cơ bản của khí, cố nhiếp là một chức năng đặc biệt quan trọng. Khí không chỉ giữ cho tạng phủ không bị sa xuống mà còn giúp cố nhiếp khí, huyết, tân dịch, tinh và thần.
Vì vậy, khi khí hư, biểu hiện không chỉ dừng lại ở bệnh trĩ.
Nếu vệ khí không đủ, phần biểu không được bảo vệ, người bệnh dễ tự ra mồ hôi.
Nếu khí không giữ được tân dịch sẽ xuất hiện tiêu chảy kéo dài hoặc kiết lỵ mạn tính.
Nếu khí không giữ được huyết sẽ dẫn đến rong huyết, băng huyết hoặc các chứng xuất huyết dưới da.
Ngay cả những trường hợp ban xuất huyết giảm tiểu cầu hay ban xuất huyết dị ứng, nếu biện chứng thuộc thể khí hư không nhiếp huyết, Bổ Trung Ích Khí Thang vẫn có thể được vận dụng và cho hiệu quả tốt.
Có thể thấy, phạm vi ứng dụng của bài thuốc không chỉ giới hạn ở bệnh trĩ mà còn liên quan đến nhiều bệnh lý có chung cơ chế trung khí hạ hãm và chức năng cố nhiếp suy giảm.

Vì sao Bổ Trung Ích Khí Thang có tác dụng nâng búi trĩ?
Theo nguyên phương ghi trong 《Tỳ Vị Luận》, Bổ Trung Ích Khí Thang gồm Hoàng kỳ, Nhân sâm, Bạch truật, Cam thảo, Đương quy, Trần bì, Thăng ma và Sài hồ.
Toàn phương được phối ngũ rất chặt chẽ.
Trong đó, Hoàng kỳ, Nhân sâm, Bạch truật và Cam thảo là nhóm thuốc chủ lực bổ khí kiện tỳ. Đặc biệt, Hoàng kỳ được dùng với liều lượng cao hơn các vị khác nhằm tăng cường tác dụng ích khí, thăng dương và phục hồi chức năng cố nhiếp của trung khí.
Đương quy vừa dưỡng huyết vừa hoạt huyết. Tỳ khí hư kéo dài thường dẫn đến huyết hư, vì vậy bổ khí đồng thời dưỡng huyết sẽ giúp khí huyết cùng được phục hồi.
Trần bì có tác dụng lý khí, điều hòa khí cơ, giúp các vị thuốc bổ không gây đầy trệ, đồng thời làm cho khí cơ vận hành thông suốt hơn.
Hai vị Thăng ma và Sài hồ tuy dùng với lượng nhỏ nhưng lại là điểm đặc sắc của toàn phương. Chúng có tác dụng thăng phát thanh dương, đưa tỳ dương đi lên, giúp phát huy đầy đủ tác dụng thăng dương cử hãm của bài thuốc. Chính nhờ sự phối hợp này mà Bổ Trung Ích Khí Thang không chỉ bổ khí đơn thuần mà còn có khả năng nâng đỡ các tạng phủ bị sa, từ đó cải thiện tình trạng sa búi trĩ do trung khí hạ hãm.
Sau này, nhiều danh y như Trương Cảnh Nhạc hay Trương Tích Thuần đều kế thừa tư tưởng của Lý Đông Viên và phát triển thêm các phương như Cử Nguyên Tiễn, Thăng Hãm Thang. Điều đó cho thấy học thuyết điều trị tỳ hư khí hãm bằng phép bổ khí thăng đề đã trở thành nền tảng quan trọng trong y học cổ truyền.
Ứng dụng trong các chế phẩm hiện đại
Kế thừa tư tưởng của Bổ Trung Ích Khí Thang, nhiều chế phẩm y học cổ truyền hiện nay được nghiên cứu nhằm phù hợp hơn với điều trị bệnh trĩ trong thực hành lâm sàng.

Trĩ Linh Hoàn P/H là thuốc thảo dược, được bào chế trên dây chuyền sản xuất đạt tiêu chuẩn GMP-WHO của Đông dược Phúc Hưng
Trĩ Linh Hoàn P/H là một trong những công thức được xây dựng theo nguyên tắc này. Thành phần lấy Đảng sâm thay cho Nhân sâm, kết hợp Hoàng kỳ, Bạch truật, Đương quy, Trần bì, Cam thảo và Thăng ma, giữ vững nguyên lý bổ trung ích khí, kiện tỳ thăng dương, cử hãm, hướng đến cải thiện căn nguyên của bệnh trĩ do trung khí hạ hãm.
Bên cạnh đó, công thức được gia thêm Hòe hoa và Trắc bách diệp để phù hợp hơn với đặc điểm lâm sàng của bệnh trĩ.
Các nghiên cứu dược lý hiện đại cũng cho thấy Hòe hoa chứa hàm lượng rutin khá cao. Hoạt chất này giúp tăng độ bền thành mạch, giảm tính thấm và tính giòn của mao mạch, từ đó hỗ trợ hạn chế chảy máu và cải thiện tình trạng suy yếu của hệ tĩnh mạch. Trong khi đó, Trắc bách diệp đã được ghi nhận có tác dụng cầm máu, chống viêm và thúc đẩy quá trình phục hồi tổn thương mô, góp phần hỗ trợ cải thiện các triệu chứng chảy máu và viêm tại vùng hậu môn.
Sự phối hợp giữa nhóm thuốc bổ trung ích khí với nhóm thuốc lương huyết chỉ huyết giúp công thức vừa hướng tới điều trị căn nguyên là tỳ khí hư, trung khí hạ hãm, vừa hỗ trợ cải thiện các triệu chứng thường gặp như đại tiện ra máu, sa búi trĩ và khó chịu vùng hậu môn. Đây cũng chính là nguyên tắc "tiêu bản kiêm trị" của y học cổ truyền - điều trị đồng thời cả gốc bệnh và triệu chứng - nhằm nâng cao hiệu quả điều trị và hạn chế nguy cơ tái phát.Theo y học cổ truyền, Hòe hoa có tác dụng lương huyết, chỉ huyết, thanh nhiệt đại trường, là vị thuốc kinh điển trong điều trị trĩ xuất huyết. Trắc bách diệp có công năng lương huyết, thu liễm, chỉ huyết, thường được phối hợp với Hòe hoa nhằm tăng hiệu quả cầm máu và hỗ trợ làm lành tổn thương niêm mạc.
- Điều trị bầm tím tụ máu bằng phương thuốc bí truyền của các võ sư ( 167051 lượt xem )
- 22 mẹo hay trị vết thâm tím ( 68729 lượt xem )
- 4 câu hỏi thường gặp khi bị bầm tím ( 50223 lượt xem )
- Thực phẩm chức năng nào điều trị dứt điểm được bệnh viêm đại tràng mạn tính? ( 37867 lượt xem )
- Giới thiệu chung ( 35697 lượt xem )







