Tứ quân tử thang và những biến hóa từ phương thang cổ điển
Tứ quân tử thang là một trong những phương thuốc mang tính nền tảng nhất của y học cổ truyền, xuất hiện từ «Thái bình huệ dân hòa tễ cục phương» đời Tống. Bốn vị thuốc - Nhân sâm, Bạch truật, Phục linh, Chích cam thảo - phối hợp với nhau tạo nên một chỉnh thể hài hòa, chuyên trị tỳ vị khí hư, nơi căn bản của hậu thiên sinh hóa. Khi khí của tỳ vị suy yếu, vận hóa bất lợi, người bệnh thường uể oải, dễ hụt hơi, ăn kém, bụng đầy nát, đại tiện lỏng, lưỡi nhợt, mạch tế hoặc trầm. Đây chính là phạm vi ứng dụng của bài thuốc.

Nhân sâm giữ vai trò chủ soái, vị cam tính ôn, bổ trung ích khí, nâng đỡ nguyên khí của tỳ vị. Ngày nay thường thay bằng Đảng sâm hoặc Thái tử sâm với lượng 10 - 12g, phù hợp tính chất lâm sàng. Bạch truật là vị thần dược trong bài, kiện tỳ táo thấp, giúp trung tiêu kiện vận; Phục linh lại sở trường kiện tỳ thẩm thấp, điều hòa thủy dịch; còn Chích cam thảo điều hòa các vị thuốc, hoãn trung chỉ thống, đôi khi có thể bỏ nếu sâm và truật đã quá ngọt. Cùng nhau, bốn vị như bốn trụ cột chống đỡ trung tiêu, khiến tỳ vị vận hóa hồi phục, khí hóa được khởi động. Vì vậy Tứ quân tử thang được xem như tổ phương kinh điển của nhóm phương kiện tỳ bổ khí - hễ gặp chứng khí hư đều có thể từ đây mà gia giảm.
Các biến phương từ Tứ quân tử thang
Tứ quân tử thang càng đi vào thực tiễn, càng phát sinh nhiều biến thể nhằm thích ứng với những chứng trạng phong phú của tỳ vị. Dị Công Tán là dạng biến hóa đầu tiên, xuất hiện trong «Tiểu nhi dược chứng trực quyết» của Tiền Ất. Chỉ cần gia thêm Trần bì, bài thuốc liền có thêm khả năng lý khí, hòa vị, tiêu trướng; rất thích hợp với người tỳ hư lại kèm đầy chướng khí trệ. Đây được xem là một bước tiến lớn để dẫn thuốc vào khí cơ, tránh tình trạng “bổ mà không vận”.
Lục quân tử thang là sự phát triển tiếp theo, ghi trong «Y học chính truyền» đời Minh. Từ Dị Công Tán thêm Bán hạ, kèm theo Sinh khương và Táo tàu, bài thuốc biến thành công thức vừa bổ khí vừa hóa đàm thấp.
Khi tỳ vị khí hư không vận được thủy thấp, đờm ẩm sinh ra, khí nghịch, ho đờm, buồn nôn… khi ấy Lục quân tử thang trở thành chủ phương.
Từ Lục quân tử lại sinh ra Hương sa Lục quân tử thang - bài thuốc nổi tiếng trong điều trị tỳ vị hư hàn. Mộc hương và Sa nhân được đưa vào để ôn trung tán hàn, lý khí chỉ nôn. Nhờ vậy bài thuốc vận dụng hữu hiệu trong các chứng đờm ẩm nội trở, đau bụng đầy tức, nôn, tả, hoặc các bệnh lý mạn tính của dạ dày - đại tràng thuộc thể tỳ vị hư hàn. Đặc biệt với phụ nữ nghén, vị khí bất hòa, đây là phương thuốc rất hợp lý.
Lục Thần Tán lại là một biến thể khác của Tứ quân tử, khi thêm Bạch biển đậu, Hoàng kỳ và Hoắc hương. Sự kết hợp này làm mạnh hơn tác dụng kiện tỳ ích khí, tiêu thấp và điều hòa vị khí. Bài thuốc dùng tốt trong các trường hợp tỳ khí hư ở trẻ em, ăn uống kém, nôn trớ, tả, cam tích do sữa hoặc bột.
Trong «Chứng trị chuẩn thằng», Vương Khẩn Đường đời Minh sáng lập Thất vị Bạch truật tán. Ngoài bốn vị gốc, bài thuốc gia thêm Cát căn, Mộc hương và Hoắc hương. Nhờ đó công năng thanh nhiệt sinh tân được mở rộng, phù hợp với chứng tỳ hư, nạp kém mà có kèm sốt, khát nước - thường gặp ở trẻ nhỏ hoặc các chứng nội thương ẩm thấp hóa nhiệt.
Tứ quân tử thang khi gặp các chứng bệnh liên quan khí huyết đồng thời bị suy tổn thì trở thành Quy thược Lục quân thang. Đương quy và Bạch thược được phối nhập, giúp dưỡng huyết, nhu can, điều hòa khí huyết và trung tiêu. Bài thuốc thích hợp với chứng can tỳ lưỡng hư, viêm gan mạn tính ở thể tỳ khí suy, hoặc các chứng mệt mỏi kéo dài có kèm huyết hư.
Sâm Linh Bạch truật tán là sự mở rộng lớn hơn, khi bài thuốc thêm Bạch biển đậu, Hoài sơn, Liên nhục, Ý dĩ, Sa nhân và Cát cánh. Công năng kiện tỳ được đẩy mạnh, lại kiêm bổ phế, lý khí hóa đàm. Những trường hợp tỳ hư sinh kim yếu, tỳ phế lưỡng hư, ho đờm, ăn kém, tiêu lỏng - bài thuốc phát huy tác dụng đặc biệt.
Cuối cùng, khi Tứ quân tử thang kết hợp cùng Tứ vật thang (Đương quy - Thục địa - Bạch thược - Xuyên khung), tạo thành Bát Trân thang hoặc tiến xa hơn là Thập Toàn Đại Bổ. Đây là phương thuốc dùng để bổ khí và huyết cùng lúc. Tùy vào bệnh cảnh thiên khí hay thiên huyết mà gia giảm liều lượng để đạt trạng thái khí huyết tương sinh, tương bổ, đặc biệt ứng dụng cho chứng suy kiệt, phụ nữ sau sinh, người thiếu máu, hư lao lâu ngày.
- Điều trị bầm tím tụ máu bằng phương thuốc bí truyền của các võ sư ( 166475 lượt xem )
- 22 mẹo hay trị vết thâm tím ( 68166 lượt xem )
- 4 câu hỏi thường gặp khi bị bầm tím ( 49380 lượt xem )
- Thực phẩm chức năng nào điều trị dứt điểm được bệnh viêm đại tràng mạn tính? ( 37500 lượt xem )
- Giới thiệu chung ( 34038 lượt xem )







